Số lượt truy cập 
Trang chủ arrow Trung tâm y tế Nha Trang
Trung tâm y tế Nha Trang
Cập nhật ( Thứ năm, 28-08-2008 )
TRUNG TÂM Y TẾ NHA TRANG In E-mail
Thứ bảy, 26-04-2008
   

    Được thành lập theo Quyết định số 652/UB ngày 02/01/1990 của UBND tỉnh Khánh Hòa, trên cơ sở hợp nhất các tổ chức sự nghiệp y tế thành phố Nha Trang:

- 05 Phòng khám Đa khoa khu vực, Nhà hộ sinh 2 (trước đây trực thuộc Bệnh viện thành phố Nha Trang)

- Đội Vệ sinh phòng dịch- Chống sốt rét, Đội Sinh đẻ có kế hoạch (trước đây trực thuộc Phòng Y tế thành phố Nha Trang)

Tháng 6/1992, 25 trạm y tế xã phường về trực thuộc tại Trung tâm Y tế (trước đây trực thuộc UBND xã phường). Đến năm 1999 và năm 2002, thành lập thêm 02 trạm y tế Phước Long và Vĩnh Hòa.

Thực hiện Nghị định 172/2004/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư liên tịch 11/2005/TTLT-BYT-BNV, tháng 1/2006 Phòng Y tế Nha Trang được thành lập và quản lý 27 trạm y tế xã phường.

Thực hiện Nghị định 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BYT-BNV, trạm y tế xã phường là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung tâm Y tế.

    * Chức năng:

    Quản lý, điều hành, kiểm tra, tổ chức thực hiện có kết quả các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ y tế trên địa bàn thành phố Nha Trang, đảm bảo hoàn thành kế hoạch được giao, đáp ứng kịp thời các nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân địa bàn thành phố.

    * Nhiệm vụ:

    Phát hiện tình hình dịch bệnh trên địa bàn thành phố, báo cáo cấp trên và có hướng xử lý kịp thời. Tổ chức, thực hiện công tác quản lý sức khỏe, bệnh tật của nhân dân. Nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào các hoạt động của đơn vị theo hướng dẫn của cấp trên. Xây dựng và củng cố tuyến y tế cơ sở về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật. Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch được giao.

    * Tóm tắt tình hình hoạt động và những thành tựu:

    Chủ động phòng chống dịch bệnh trên địa bàn thành phố.

    Từ năm 1996 đến nay không xảy ra dịch tả, dịch hạch. Khống chế dịch Thương hàn không phát thành dịch, dịch sốt xuất huyết có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp trong những năm gần đây. Đẩy mạnh công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, trong các năm qua không xảy ra các vụ ngộ độc thức ăn >30 người tại các cơ sở trong phạm vi phân cấp quản lý của thành phố. Công tác vệ sinh trường học, vệ sinh lao động, vệ sinh môi trường được tiến hành thường xuyên.

    Triển khai có hiệu quả và đi vào nề nếp chương trình tiêm chủng mở rộng. Các tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi tiêm đủ liều các năm đạt trên 95%, tiêm phòng viêm gan B cho trẻ dưới 1 tuổi và uốn ván 2 cho phụ nữ có thai đạt trên 90%. Duy trì thành quả thanh toán bại liệt và loại trừ uốn ván sơ sinh. Tiếp tục triển khai đồng bộ các chương trình y tế khác (ARI, CDD, vitamin A, sốt rét, bướu cổ…). Quản lý chặt chẽ các bệnh xã hội: lao, phong, tâm thần, mù loà, HIV/AIDS. Thực hiện có hiệu quả công tác truyền thông, quản lý, chăm sóc, tư vấn người nhiễm HIV/AIDS nên đã kìm chế tốc độ gia tăng tỷ lệ người nhiễm trên địa bàn Nha Trang nói riêng và Khanh Hòa nói chung. Hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu BVSKBMTE- KHHGĐ. Quản lý và thực hiện tốt các kỹ thuật KHKGĐ, không để xảy ra tai biến. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ <5 tuổi hàng năm từ năm 2002 đến 2007 ( giảm từ 23% năm 2002 xuống còn 14,91% năm 2007 )

    Mặc dù trên địa bàn không có bệnh viện thành phố, 05 Phòng khám ĐKKV và Nhà hộ sinh Nha Trang đã đảm bảo công tác khám điều trị cho nhân dân, người có thẻ bảo hiểm y tế và trẻ dưới 6 tuổi. Nâng cao chất lượng khám bệnh điều trị, thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn, quy định về Y đức của Bộ Y tế. Tăng cường lưu bệnh nhân điều trị nội trú và thực hiện các dịch vụ cận lâm sàng. Số lần khám bệnh, số bệnh nhân thực hiện chẩn đoán bằng X quang, siêu âm, điện tim, xét nghiệm năm sau đều tăng so với năm trước. Triển khai khám chữa bệnh chuyên khoa đông y và khám chữa bệnh theo yêu cầu nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân.

    Kết quả thu viện phí, lệ phí hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cấp trang thiết bị, cung ứng đầy đủ kịp thời thuốc men cho công tác khám điều trị. Cử nhiều đợt cán bộ đi học chuyên khoa cấp I, cao học, bác sĩ, cử nhân và học tập nâng cao trình độ tại các bệnh viện tuyến trên. Duy trì thường xuyên các phong trào thi đua. Hàng năm xây dựng được từ 01- 04 Tổ đội lao đội lao động xuất sắc và Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở. Tỷ lệ lao động giỏi hàng năm đạt trên 95 %.

- Trung tâm y tế được tặng nhiều bằng khen, giấy khen của UBND tỉnh, Sở Y tế, UBND thành phố Nha Trang, đạt danh hiệu cơ quan văn hóa và đơn vị xuất sắc toàn diện của thành phố. 02 cá nhân nhận bằng khen của Bộ Y tế, 01 cá nhân đạt danh hiệu Thầy thuốc ưu tú, 74 cá nhân nhận huy chương “Vì sự nghiệp sức khỏe nhân dân”.

- Công đoàn cơ sở Trung tâm y tế được tặng nhiều giấy khen của Công đoàn Y tế Việt Nam, Liên đoàn Lao động tỉnh và Công đoàn ngành. Chi bộ Trung tâm y tế nhiều năm đạt Chi bộ trong sạch vững mạnh và được tặng nhiều giấy khen của Thành ủy Nha Trang.

    II. CƠ CẤU TỔ CHỨC:

    * Tên cơ quan đơn vị:

    Trung tâm Y tế thành phố Nha Trang

- Địa chỉ: số 13 Lê Lợi, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

- Điện thoại: (058)822167, 822267

<!--[if !vml]--><!--[endif]-->    * Tổ chức nhân sự:

- Tổng số cán bộ viên chức: 169 người (nam: 32, nữ :137 ). Trong đó: hợp đồng VP:24, hợp đồng thời vụ: 10

- Tổng số bác sĩ:34 . Trong đó: thạc sĩ: 01, BS chuyên khoa cấp I: 16

    * Ban giám đốc và trưởng, phó các phòng ban:

        - Ban giám đốc:

        + Giám đốc: ThS Võ Văn Lượng

        + Phó Giám đốc: BS Nguyễn Đình Thoan

        - Trưởng, phó các phòng ban:

        + Trưởng phòng Tổ chức- Hành chính: YS Lê Thị Ngọc Hương

        + Trưởng phòng Tài chính- Kế toán: CN Huỳnh Ngọc Xuân

        + Phó Trưởng phòng Kế hoạch- Tổng hợp: CN Huỳnh Thị Hải

        + Phó Trưởng phòng Tổ chức- Hành chính: YS Võ Đức Thắng

        + Trưởng phòng khám ĐKKV số 1: BS Phạm Văn Bình

        + Trưởng phòng khám ĐKKV số 2: BS Phan Thị Thửng

        + Trưởng phòng khám ĐKKV số 3: BS Phùng Thị Hạnh

        + Trưởng phòng khám ĐKKV số 4: BS Lê Thị Bích Hà

        + Phó Trưởng phòng khám ĐKKV số 5: BS Hòang Thị Vui

        + Trưởng Nhà Hộ sinh TP Nha Trang: BS Nguyễn Thị Việt Hồng

        + Đội trưởng Đội Y tế dự phòng: YS Nguyễn Miều

        + Đội trưởng Đội BVSKBMTE- KHHGĐ: BS Nguyễn Văn Chiêu

        + Phó Trưởng phòng khám ĐKKV số 1: BS Mai Quang Ngọc

        + Phó Trưởng phòng khám ĐKKV số 2: BS Huỳnh Thị Kim Huyền

        + Phó Trưởng phòng khám ĐKKV số 3: BS Cao Thị Hiền

        + Phó Trưởng phòng khám ĐKKV số 4: BS Ngô Nhựt Tân

    III. CƠ SỞ VẬT CHẤT:

    * Năm xây dựng, nâng cấp:

    - Phòng khám Đa khoa khu vực số 1: xây mới năm 1997, 2005, sửa chữa năm 2007

    - Phòng khám Đa khoa khu vực số 2: xây mới năm 2007

    - Phòng khám Đa khoa khu vực số 3: xây mới năm 2000, sửa chữa năm 2006

    - Phòng khám Đa khoa khu vực số 4: xây mới năm 2000, sửa chữa năm 2006

    - Phòng khám Đa khoa khu vực số 5: xây mới năm 2005, sửa chữa năm 2007

    - Nhà hộ sinh thành phố Nha Trang: xây mới năm 2002            

         Phòng khám ĐKKV số1                                                                                      

    - Đội Y tế dự phòng: sửa chữa năm 1999                 

    - Đội BVSKBMTE- KHHGĐ: sửa chữa năm 1996

    - Văn phòng Trung tâm Y tế: sửa chữa năm 2006

    * Quy mô giường bệnh: 130 giường. Trong đó:

    - 05 Phòng khám Đa khoa khu vực: 100 giường                                            Nhà Hộ sinh TP

    - Nhà hộ sinh thành phố Nha Trang: 30 giường

   

 

 

 Phòng khám ĐKKV số 2
 Phòng khám ĐKKV số 3 Phòng khám ĐKKV số 4
     * Trang thiết bị và kỹ thuật:                                                

    - Máy chụp X quang

    - Máy siêu âm đen trắng

    - Máy xét nghiệm máu 18 thông số                                

    - Máy xét nghiệm nước tiểu 10 thông số

    - Ghế- máy nha khoa

    - Máy điện tim                                   

    - Máy nghe tim thai

    - Máy soi cổ tử cung

    - Máy điện châm

    - Máy khí dung

    - Máy đo độ rung

    - Máy đo độ ồn 

    * Ứng dụng khoa học kỹ thuật trong điều trị và dự phòng:

    - Khám bệnh- Điều trị:

    + Khám sức khỏe phục vụ tuyển dụng lao động, đào tạo, dạy nghề, thi lấy bằng lái xe

    + Khám sức khỏe định kỳ cho học sinh, sinh viên, người lao động.

    + Khám bệnh, điều trị các chuyên khoa: Nội, Nhi, Ngoại, Phụ sản, Mắt, Răng hàm mặt, Tai mũi     họng, Đông y

    + Khám chữa bệnh theo yêu cầu

    + Khám, quản lý điều trị ngoại trú các bệnh xã hội: lao, phong, tâm thần, HIV/AIDS

    - Các xét nghiệm chẩn đoán:

    + Xét nghiệm máu: huyết học, vi sinh, ký sinh, sinh hóa

    + X quang

    + Siêu âm: siêu âm tổng quát, siêu âm sản phụ khoa

    + Đo điện tim

    + Soi cổ tử cung, làm tế bào âm đạo

    - Y tế dự phòng:

    + Khám sức khỏe định kỳ cho học sinh, sinh viên, người lao động, cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm theo phân cấp quản lý.

    + Tiêm vaccin

    + Xét nghiệm mẫu nước: hóa lý, vi sinh

    + Xét nghiệm người lành mang trùng

    + Xét nghiệm nhanh VSATTP

    + Đo độ rung

    + Đo tiếng ồn

    + Phun khử trùng

    + Diệt chuột, diệt côn trùng bằng hóa chất

    IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN NĂM 2010- 2020:

    1. Công tác y tế dự phòng:

    - Phòng chống bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm: Tiếp tục thực hiện các hoạt động nhằm khống chế, giảm tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh truyền nhiễm gây dịch lưu hành (tả, thương hàn, dịch hạch, sốt xuất huyết, sốt rét, viêm não do virus…). Tích cực ngăn chặn có hiệu quả các bệnh dịch nguy hiểm và bệnh mới xuất hiện (HIV/AIDS, SARS, cúm A H5N1…). Giữ vững thành quả thanh toán bệnh bại liệt và loại trừ uốn ván sơ sinh. Củng cố và nâng cao chất lượng, hiệu quả, an toàn của chương trình tiêm chủng mở rộng. Quản lý chặt chẽ các bệnh xã hội (lao, phong, tâm thần, mù lòa, HIV/AIDS). Tăng cường củng cố hệ thống giám sát và thông tin, báo cáo dịch.

    - Phòng chống các bệnh không lây nhiễm: Tăng cường chất lượng công tác khám, điều trị, quản lý bệnh nhân tim mạch, đái đường, béo phì... Triển khai thực hiện các chương trình phòng chống và dự phòng các bệnh ung thư, tim mạch, đái đường, nghiện ma túy… trên địa bàn. Đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông cho người dân về công tác phòng chống và dự phòng dịch bệnh.

    - Triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia (Dự án phòng chống sốt rét, bướu cổ, sốt xuất huyết, lao, phong, tâm thần, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, phòng chống HIV/AIDS, KHHGĐ).

    - Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm: Tăng cường năng lực quản lý, thanh kiểm tra, xét nghiệm ATVSTP tại Trung tâm Y tế. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền các văn bản vi phạm pháp luật và các tiêu chuẩn về ATVSTP. Làm tốt công tác khám sức khỏe, tập huấn, xét nghiệm cho đối tượng sản xuất kinh doanh thực phẩm có nguy cơ theo phân cấp. Xây dựng hệ thống giám sát ô nhiễm thực phẩm và hệ thống giám sát ngộ độc thực phẩm, đảm bảo giảm thiểu nguy cơ ngộ độc thức ăn và các bệnh lây truyền qua đường ăn uống.

    - Phòng chống tai nạn thương tích: Xây dựng các đơn vị cấp cứu tai nạn thương tích tại các đơn vị trực thuộc. Tăng cường đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác sơ cấp cứu, cử cán bộ đi đào tạo về cấp cứu tai nạn thương tích. Chỉ đạo tuyến y tế xã phường và phối hợp chặt chẽ với tuyến trên trong công tác xử trí tai nạn thương tích.

    - Chương trình sức khỏe sinh sản: Triển khai đồng bộ các hoạt động của chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản. Thực hiện các kỹ thuật đảm bảo an toàn, không xảy ra tai biến. Thống nhất thực hiện Chuẩn quốc gia về sức khỏe sinh sản. Lồng ghép chương trình sức khỏe sinh sản với các hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, hoạt động khám chữa bệnh chuyên khoa sản và nhi. Tăng cường các hoạt động chăm sóc, hồi sức sơ sinh.

    - Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em: Huy động tối đa nguồn lực cho chương trình phòng chống suy dinh dưỡng để đảm bảo giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ <5 tưổi hàng năm. Chú trọng tính hiệu quả và bền vững của chương trình. Thực hiện các can thiệp đối với trẻ thừa cân và bèo phì có chiều hướng gia tăng.

    - Nâng cao năng lực cán bộ làm công tác y tế dự phòng. Củng cố đội ngũ cán bộ y tế dự phòng và y tế công cộng. Chú trọng công tác đào tạo, đào tạo mới và đào tạo lại nhằm nâng cao năng lực chuyên môn phòng chống dịch bệnh.

    - Tăng cường trang thiết bị, máy móc xét nghiệm, phát hiện giám sát bệnh dịch, giám sát vệ sinh môi trường, ATVSTP.

    2. Công tác khám chữa bệnh:

    Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các cơ sở điều trị, phấn đấu đạt chỉ tiêu số lần khám bệnh và hiệu suất sử dụng giường bệnh được giao. Tăng cường thu dung bệnh nhân điều trị nội, ngoại trú và các hoạt động cận lâm sàng. Làm tốt công tác khám điều trị bệnh nhân có thẻ Bảo hiểm y tế và trẻ em dưới 6 tuổi, tiếp tục triển khai khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế và trẻ em dưới 6 tuổi tại 100% trạm y tế xã phường. Đảm bảo trang thiết bị, thuốc men phục vụ công tác cấp cứu và khám chữa bệnh. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế chuyên môn, quy chế quản lý chất thải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc.

    Đầu tư xây dựng Phòng khám Đa khoa trung tâm Nha Trang: nâng cấp từ 01 Phòng khám Đa khoa khu vực tại trung tâm thành phố, đầu tư đầy đủ cán bộ và trang thiết bị các chuyên khoa. Chuẩn bị về mọi mặt để hình thành Bệnh viện Đa khoa thành phố Nha Trang.

    Tăng cường cử đi đào tạo và tuyển dụng cán bộ chuyên môn để đảm bảo yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Triển khai các kỹ thuật mới trong khám điều trị bệnh nhân. Phối hợp, liên kết với các bệnh viện tuyến trên trong công tác chuyển viện chuyên khoa, chăm sóc bệnh nhân hậu phẩu, bệnh nhân bệnh mạn tính điều trị ngoại trú dài ngày. Tăng cường công tác quản lý sức khỏe cộng đồng: quản lý các bệnh mạn tính, quản lý sức khỏe theo hộ gia đình…

    Đa dạng hóa các loại hình khám chữa bệnh. Tập trung chăm lo cho các đối tượng chế độ chính sách, trợ cấp xã hội, người nghèo, bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi, người có hoàn cảnh khó khăn…

    3. Y học cổ truyền:

    - Tăng cường chất lượng công tác khám, điều trị bệnh nhân bằng phương pháp y học cổ truyền.

    - Triển khai các kỹ thuật mới trong khám, điều trị y học cổ truyền. Tiến tới mở rộng công tác khám, điều trị bệnh nhân bằng y học cổ truyền tại các Phòng khám Đa khoa khu vực.

    - Tăng cường công tác chỉ đạo chuyên môn về y học cổ truyền cho y tế xã phường.

    4. Công tác dược:

    - Củng cố và kiện toàn cán bộ làm công tác dược tại các cơ sở điều trị và tại Trung tâm Y tế.

    - Đảm bảo cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng phục vụ công tác khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh, các chương trình y tế.

    - Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả. Tăng cường vai trò của Hội đồng thuốc và điều trị và công tác dược lâm sàng.

    5. Trang thiết bị y tế:

    - Tăng cường đầu tư trang thiết bị y tế cho các cơ sở trực thuộc theo danh mục của Bộ Y tế.

    - Tăng cường nhân lực cho bộ phận phụ trách công tác trang thiết bị y tế.

    - Có kế hoạch chủ động trong công tác bảo trì, sửa chữa, quản lý trang thiết bị y tế.

    6. Khoa học công nghệ và thông tin y tế:

    - Đầu tư về nhân lực, cơ sở vật chất cho bộ phận khoa học công nghệ và thông tin y tế.

    - Triển khai nối mạng các đơn vị trực thuộc. Tăng cường sử dụng mạng tin học trong công tác quản lý, trong hoạt động chuyên môn tại đơn vị. Triển khai sử dụng các phần mềm tin học trong công tác quản lý bệnh viện, quản lý dược…

    - Từng bước đầu tư và hiện đại hóa kỹ thuật chẩn đoán cận lâm sàng tại các cơ sở điều trị trực thuộc.

    - Củng cố hệ thống báo cáo thống kê và thông tin quản lý tại đơn vị.

        Một vài hình ảnh:                                                                                             
 
Đọc tiếp...
 


Bạn đọc viêt